Thứ Tư, 13 tháng 2, 2013

Thơ BÙI NGUYỂN HƯ


Thơ của người “nhặt chuyện”
(Đọc tập thơ Điều nói với em của Bùi Nguyên Hư, NXB Văn nghệ TPHCM, 2006)

“Anh không tin con sâu trườn mình trốn tia nhìn như dao sắc của chú chim sâu. Nó đang hình dung cuộc đời - mỗi vòng đo là một niềm tin tái tạo”,…
“Anh tự dối mình để đánh đố với kẻ phù hoa và, chẳng nghĩ đến khi nào phải tự thú với em những điều lọc lừa, phỉnh nịnh. Có ai đó đã tự ví đời mình như con sâu đo? Anh đo cuộc đời hôm qua, sáng nay bắt đầu đo lại…”.

Tôi đã đọc nhiều lần tập thơ Điều nói với em của Bùi Nguyên Hư, từ bài thơ đầu tiên rất ngắn có tựa đề Nhớ bạn đến bài thơ văn xuôi có tựa đề được lấy làm tên chung cho cả tập ở những trang cuối cùng với những câu thơ được trích dẫn trên và cảm nhận tập thơ đã đọng lại trong tôi những ấn tượng.

Bùi Nguyên Hư không phải là người viết nhiều, in nhiều. Nay, đã vào quãng giữa của ngưỡng “tri thiên mệnh”, ông mới có tập thơ đầu tay – cũng không nhiều lắm - chỉ vỏn vẹn 30 bài, cầm vừa tay, do Nhà xuất bản Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh ấn hành. Trong số 30 bài ấy, có khoảng một nửa được viết theo các thể thơ truyền thống có vần, có điệu, phần còn lại là thơ tự do, thơ văn xuôi.

Mở đầu bài thơ, ta gặp ngay một bài Haiku:
“Uống một ly rượu đắng/vén mây tìm bạn/đau cả trăng” (Nhớ bạn).
Chỉ ngần ấy từ mà gợi lên một tình bạn thăm thẳm không cùng, điều này cũng phần nào cho người đọc cảm nhận về một giọng thơ riêng của tác giả.
Bùi Nguyên Hư viết về cuộc sống, về quê hương bằng những dấu trầm, trầm như hơi thở của người nông dân sau bao mùa vụ, đọng trong từng câu chữ, từng nhịp thơ, đó là:
“…Hạt gạo/cơ nghiệp một đời/có lúc mẹ phải cắn đôi/như hai dòng sữa/già nua/vẫn cho con từng giọt…” (Hạt gạo),
“Cuối đông/những chú cá rô nhớ nguồn vượt cạn/trong tôi-róc rách đã khuya/như con chốt đồng khô chạm vào thời khắc/một góc nhỏ quê nhà…” (Cuối đông);
viết về xuân, về tết, ông cũng một giọng trầm như vậy, và sự chiêm nghiệm:
“Thắp nén hương thời khắc/quẻ gieo mùa/chim hót nôn nao vài câu chữ/trên cánh đồng đã giêng” (Giêng)…

Với thể thơ văn xuôi, Bùi Nguyên Hư có 5 bài, xếp ở phần sau của tập thơ: Với hoa, Qua đồi ấy thanh minh, Chạm tay vào mùa thu, Với biển, Điều nói với em. Thể thơ này không phụ thuộc vào vần, nhịp, tác giả theo mạch cảm xúc để diễn đạt ý, tuy nhiên, nếu không khéo dễ bị sa đà làm loãng hoặc rối ý thơ. 5 bài thơ này, Bùi Nguyên Hư nói về 5 đối tượng: về hoa, về đời, về mình, về biển và về em theo thứ tự trong tập, gom lại trong cái tôi của mình, trải ra những triết lý về cuộc sống, tinh tế qua từng ý thơ.
Với hoa, ông viết về loài hoa quỳnh – loài hoa chỉ nở về đêm:
“Hoa đã treo mặt trời ngủ ngược vào đêm, im ắng như chưa bao giờ có tiếng roi xà ích. Trăng lạnh thẩm thấu vào da”.
Về biển là những hình ảnh:
“Người phụ nữ khỏe khoắn đôi chân, kìn kịt quang gánh về chợ. Anh đắm đuối nhìn, và như được nhìn cả tầm của biển trong xanh…”.
Và đời thì:
“Như có tiếng hát từ ngàn thu lạ hoắc ở cõi đi về còn lẫn trong bụi hoa gai một cánh hoa muộn mằn nở muộn…” (Qua đồi ấy thanh minh)…
Sự suy tưởng, những tiết tấu và hình ảnh thể hiện qua những bài thơ văn xuôi này đã tạo nên nét riêng trong phong cách thơ Bùi Nguyên Hư.

Qua Điều nói với em, tác giả đã nói được nhiều điều với mọi người qua cảm quan và ngôn ngữ riêng của thơ mình. Bùi Nguyên Hư tự cho mình là người nhặt chuyện nhưng nhặt chuyện để rồi như người nông dân: “…vác cày đi sớm hơn mặt trời/gieo xuống đồng vô số hạt ban mai…” sẽ trở nên rất đáng quý trên cánh đồng thơ bạt ngàn buổi nay.

TRƯỜNG THANH



Khi hoa biết nói


Ta chọn màu dưa đỏ An Tiêm để tôn vinh,

đẹp và thanh khiết đến dường nào khi chiều nay hoa biết nói. 

Em như đôi môi cô gái sắp hường

và bước thập thúy trên nền gạch

những gót sen.
Tỏ tường cả giọt sương đọng trên lá trúc đào

bỗng giận hờn cho đến mùa đông năm sau

nếu ta không hiểu sự viên mãn của gió.
Đôi môi hường kín đáo, thốt nên lời nguyện cầu

nghe như tiếng chuông thỉnh nguyện buổi chiều

mẹ ta trước đêm trừ tịch.
Em hàm ngụ độ lượng

hạnh phúc luôn là giọt nước mắt ngọt ngào

của người vinh hiển và của kẻ bất hạnh.


Em nói...



BUỔI SÁNG Ở ĐÔNG HÀ

Cám ơn góc phố ta đứng như dấu chấm than
Cám ơn tách cà phê buổi sáng
Không có tiếng còi tàu giục vội
Không có gió giật như đầu hôm
Hàng phượng rừng lặng yên
(có thể giả vờ không biết)
Không tiếng lá
Không gió thốc
Bước thênh thênh cũng bận bịu trong người
Cảm ơn góc phố nhỏ
Cảm ơn những giọt cà phê rơi chậm

Ta ngập ngừng
Em biết
Giữa ngã ba

Thứ Năm, 7 tháng 2, 2013




Đài Nguyên Vu
Tiểu sử:
Tên thật:   Tôn Thất Trâm
Sinh năm: 1940
Nơi sinh:   Bình Thuận                    (quê)
Bút danh:  Đài Nguyên Vu
Các tác phẩm:
ê   Nguyệt chính xuân
ê   Em là nguồn thơ

NGUYỆT CHÍNH XUÂN


Chuông điểm, núi rừng vang ứng tiếng
Sân vườn thắm cúc phấn in tay
Bây giờ trở lại ngôi am tự
Nguyệt chính xuân, mùa xuân tháng hai



Giao hưởng âm thanh chung đất nước
Mùa xuân trang trọng tận trong ngoài
Bài thơ cô gái cài lên tóc
Vạt nắng lung linh vạt áo dài



Im lặng người thơ vui biết mấy
Nắng càng rực sáng biển càng xanh
Dẫu chưa đo cánh không gian rộng
Cũng muốn cùng ai cạn chén quỳnh.






ĐẤT NƯỚC ĐƯƠNG XUÂN

Mai, đào trổ lộc
Đất nước đương xuân
Cửa sài hé mở
Nắng tràn vườn sân

Muốn làm dãi lụa
Nơi thung lũng xanh
Muốn làm đôi  mắt
Như sóng sau cành
Muốn làm bàn tay
Viết bài thơ tình

Em nay bớt giận
Dáng em đầy trăng
Hôm qua cũng thế
Sao mà vắng tanh
Em nâng trái mộng
Ngước nhìn thật nhanh


XỨ MƠ TIÊN


Cau vẫn từ nơi nước nhỉ lên
Trầu xanh đích thực xứ mơ tiên
Em về nghiêng nón trên đường Luyện
Nghìn chuối chen quanh lục diệp hồng

Thơ đan bảy chữ nét huyền thanh
Vợ chẳng mê thơ ý tứ lanh
Bảo bỏ thi thư, thơ luống mất
Nàng thơ vẫn đến thiết tha tình